|
Phối hợp toàn cầu
Phát triển kinh tế xanh đòi hỏi sự nỗ lực phối hợp toàn cầu vì nó đã trở thành vấn đề của toàn thế giới, trong đó vai trò của Liên hợp quốc rất quan trọng. Ngay từ cuối năm 2008, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UEP) đã phát động "Sáng kiến kinh tế xanh" với mục đích tăng cường phối hợp và hợp tác quốc tế ứng phó với khủng hoảng tài chính đi liền với việc xử lý các vấn đề về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu và chống đói nghèo... nhằm hướng tới phát triển bền vững của kinh tế toàn cầu. Sáng kiến kinh tế xanh kêu gọi các nước ưu tiên kích thích kinh tế cho các ngành kinh tế xanh như nhà ở sử dụng hiệu quả năng lượng, phát triển năng lượng mới và nông nghiệp bền vững; các chính phủ có các chính sách hỗ trợ cho phát triển kinh tế xanh về thuế, quy hoạch sử dụng đất và quản lý tài nguyên nước, tài nguyên thiên nhiên, môi trường; phối hợp quốc tế về phát triển xanh nhằm thúc đẩy việc tăng các nguồn lực giúp các nước đang phát triển xử lý các vấn đề toàn cầu như an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu...
Năm 2009 vấn đề phát triển kinh tế xanh cũng được nhiều hội nghị quốc tế nêu lên như là các biện pháp kích thích kinh tế. Hội nghị Thượng đỉnh G8 tháng 7-2009 tại I-ta-li-a nhấn mạnh việc ưu tiên tạo việc làm xanh và hướng tới phát triển bền vững và cam kết dỡ bỏ các rào cản đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan trực tiếp đến ứng phó biến đổi khí hậu... Hoặc tại hội nghị Tương lai châu Á lần thứ 15 họp tại Nhật Bản tháng 5-2009 đã có sáng kiến "Tiến tới Hội nhập xanh Ðông Bắc Á" nhằm phối hợp xây dựng nền kinh tế dựa trên các ngành công nghiệp xanh, sử dụng hiệu quả năng lượng và ít gây tổn hại cho môi trường. Còn như Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu tháng 12-2009 tại Cô-pen-ha-gen (Ðan Mạch) đã thể hiện sự quan tâm của các nước đối với vấn đề giảm thiểu khí thải - một nguyên nhân cơ bản làm biến đổi khí hậu và nước biển dâng lên...
Có thể nói, xanh hóa nền kinh tế đang trở thành điểm ưu tiên trong các chính sách và chiến lược của nhiều quốc gia ứng phó với khủng hoảng và sau khủng hoảng kinh tế và biến đổi khí hậu. Theo ước tính của Viện Nghiên cứu toàn cầu thì đầu tư cho phát triển xanh đầu năm 2009 chiếm khoảng 14% tổng giá trị các gói kích thích kinh tế toàn cầu, trong đó tập trung cho xây dựng nhà ở sử dụng hiệu quả năng lượng, năng lượng tái tạo và năng lượng thay thế, giao thông tiết kiệm năng lượng, phát triển nông nghiệp bền vững, sử dụng hiệu quả nguồn nước và làm sạch các con sông lớn. Nhiều nước còn sửa đổi chính sách thuế và luật môi trường để khuyến khích đầu tư và tiêu dùng sang các ngành, lĩnh vực và sản phẩm xanh. Một số nước còn lập cơ quan đặc trách về phát triển kinh tế xanh và chống biến đổi khí hậu như Hàn Quốc, Phi-li-pin... Mỹ là nước dành khoảng 150 tỷ USD trong gói kích thích kinh tế đầu tư cho các lĩnh vực kinh tế xanh và thành lập cơ quan triển khai năng lượng sạch để huy động các nguồn lực và đầu tư cho chương trình năng lượng sạch. Tháng 6-2009 Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật chống biến đổi khí hậu với mục tiêu giảm khí thải nhà kính 17% vào năm 2020 so với năm 2005 và cho phép các công ty xả khí thải thấp hơn hạn ngạch có thể bán phần hạn mức khí thải không dùng hết cho các công ty khác.
Nắm bắt cơ hội
Nước ta hiện đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, thời gian qua phát triển kinh tế còn dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu chủ yếu vẫn là nguyên liệu thô, môi trường bị ô nhiễm và xuống cấp. Chủ trương phát triển kinh tế nhanh và bền vững chưa được quán triệt và thực thi đồng bộ, vì vậy đầu tư cho bảo vệ môi trường chưa tương thích cả về chính sách và các nguồn lực. Những biến đổi của khí hậu và nước biển dâng
lại đang tác động, tàn phá khủng khiếp cho sản xuất và đời sống đe dọa, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng chục triệu cư dân ven biển và đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long.
Xu hướng phát triển kinh tế xanh trên thế giới gợi mở cho chúng ta những vấn đề mới trong đề xuất các chính sách để cơ cấu lại nền kinh tế và phát triển bền vững, bảo vệ môi trường.Trước mắt, trong thập niên tới, chúng ta cần nắm lấy cơ hội để phát triển kinh tế xanh và bền vững trong xây dựng và thực thi Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng, trong đó có Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Ngay trong năm 2010, chúng ta cần tiếp tục suy nghĩ và thực hiện các biện pháp cơ bản cho phát triển bền vững là đổi mới công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp và giải quyết nguồn nước sạch cung cấp cho đời sống và sản xuất cho nhân dân cả ở thành thị và nông thôn.
Ðổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn do các doanh nghiệp chưa thật chủ động tham gia vào các chương trình, đề án của Chính phủ và chính quyền các địa phương. Như ở TP Hồ Chí Minh, trong số 500 doanh nghiệp được khảo sát thì mới có chừng 10% các doanh nghiệp đăng ký tham gia đổi mới công nghệ. Hầu hết các doanh nghiệp rất ngại bộc lộ nhu cầu đổi mới công nghệ và lúng túng khi tìm và lựa chọn công nghệ thay thế phù hợp. Nhiều doanh nghiệp vấp phải khó khăn khi tìm kiếm các nguồn thông tin về các công nghệ cần thiết, hoặc như cách thức mà doanh nghiệp tiến hành các thủ tục pháp lý để có thể đánh giá cũng như định giá như thế nào cho đúng với yêu cầu về pháp luật và chất lượng các công nghệ.
Trong đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp thì đổi mới công nghệ công nghiệp sản xuất phục vụ chuyển dịch cơ cấu công nghiệp là quyết định nhất, vì đây là công nghệ then chốt để thay đổi cách thức sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa. Do vậy cần ưu tiên cho các ngành như cơ khí chế tạo máy, điện tử - công nghệ thông tin, hóa chất và chế biến tinh lương thực, thực phẩm.
Bảo vệ và bảo đảm nguồn nước sạch cho sản xuất và đời sống nhân dân hiện nay đang nổi lên như một yêu cầu cấp bách và thường xuyên. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo ngành tài nguyên - môi trường và chính quyền các cấp trong năm 2010 phải có những giải pháp hữu hiệu bảo vệ nguồn tài nguyên nước, kiểm soát chặt chẽ các nguồn chất thải làm ô nhiễm nước các con sông và có các biện pháp làm sạch các con sông bị ô nhiễm và khôi phục các dòng chảy cho các con sông đang bị cạn kiệt. Vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế xanh trong nền kinh tế nông nghiệp nước ta chính là thực hiện thật tốt chính sách phát triển nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường.
Cùng với việc bảo vệ nguồn nước của các con sông, cần coi trọng trồng cây gây rừng, bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng đầu nguồn. Trong việc chống ô nhiễm môi trường và các nguồn nước, cần có những chính sách khuyến khích nông dân và các doanh nghiệp sử dụng công nghệ mới cho sản xuất và chế biến nông sản, sử dụng khoa học, kỹ thuật hiện đại tiết kiệm nước và tái tạo năng lượng từ các nguồn rác, chất thải rắn hữu cơ.
Một thông tin cần phổ biến đến nông dân và những người làm công tác môi trường là công nghệ chế biến chất thải rắn hữu cơ thành khí chạy động cơ đã được các nhà khoa học Việt Nam hoàn tất. Thạc sĩ Lê Thị Kim Oanh và các cộng sự ở TP Hồ Chí Minh thực hiện đề tài này cho biết, nguồn năng lượng từ khí sinh vật có giá trị năng lượng rất cao, chỉ kém dầu mỏ, do đó cần được sử dụng triệt để nhằm tiết kiệm năng lượng và giảm diện tích đất chôn lấp, lại bảo vệ môi trường. Theo TS Lê Văn Khoa, Giám đốc Quỹ tái chế TP Hồ Chí Minh thì nhà máy thu hồi khí phát điện tại bãi chôn lấp Gò Cát thì một tấn chất thải rắn hữu cơ có thể chế tạo ra trên 300 kWh điện, tiết kiệm 0,239 m3 đất chôn lấp, giảm 240 nghìn đồng chi phí chuyên chở.
Phát triển kinh tế xanh mở ra triển vọng tốt đẹp cho tương lai. Xu hướng xanh hóa nền kinh tế mở ra cho nước ta cơ hội có thể đón lấy để phát triển nhanh và bền vững. Theo đó cần có những chính sách hỗ trợ đầu tư cho phát triển, người dân hưởng ứng mạnh mẽ sẽ tiết kiệm được tài nguyên và bảo vệ tốt môi trường.
(Nguồn: Báo Nhân dân)
|