|
Thời gian gần đây, trong xây dựng bắt đầu đề cập tới một cụm
từ mới: “Kiến trúc xanh”. Vậy “kiến trúc xanh” là gì và nó mang lại lợi ích như
thế nào cho xã hội? Cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Trung Hoà - Vụ trưởng Vụ Khoa học
công nghệ và môi trường, Bộ Xây dựng sẽ cho chúng ta rõ hơn về vấn đề này.
PV: Thưa ông, ông có thể nói rõ hơn về khái niệm “kiến trúc
xanh", muốn được gọi là công trình kiến trúc xanh thì phải đáp ứng những
tiêu chuẩn nào?
Ông Nguyễn Trung Hòa: Chúng ta cần phải phân biệt, hay nói
đúng hơn là không nên nhầm lẫn giữa kiến trúc xanh với hình ảnh của các khu
resort cực hiện đại. Kiến trúc xanh là những công trình xanh không những TKNL,
bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo lợi ích, hài hòa an sinh xã hội. Cụ thể là:
Các công trình xanh sử dụng năng lượng có hiệu quả không? Có tận dụng ánh sáng
tự nhiên và tiết kiệm nước không? Công trình có hoà nhập với cộng đồng xung
quanh không? Vật liệu xây dựng có thân thiện với môi trường không? Tóm lại,
công trình ấy có tác động thế nào đến môi trường tự nhiên và xã hội?

Khách sạn Sài Gòn Mũi Né - Công trình kiến trúc xanh đạt giải cao trong cuộc thi Tòa nhà hiệu quả năng lượng 2009
Cũng không nên quan niệm “xanh” là hoàn toàn không dùng máy
lạnh, không dùng kính, mà nên hiểu là trong phương án thiết kế có sử dụng các
giải pháp cách nhiệt tốt, che chắn nắng, phản quang, cách âm, chống bụi… hay
không? Và ở những nơi có thể, người ta cần tận dụng tối đa cảnh quan tự nhiên,
cải tạo vi khí hậu quanh công trình bằng cây xanh, hồ nước, thảm cỏ.
Vì vậy, tôi cho rằng, luôn cần có sự hiểu biết sâu sắc về
môi trường tự nhiên và xã hội trước khi đề ra giải pháp thiết kế cho kiến trúc
xanh.
PV: Nói như vậy có nghĩa kiến trúc xanh mang lại lợi ích cho
đời sống xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống, thưa ông?
Ông Nguyễn Trung Hoà: Đúng vậy, ngành xây dựng có tác động
đáng kể tới nền kinh tế quốc dân, thậm chí ngay cả những thay đổi nhỏ nhất nhằm
thúc đẩy tính hiệu quả sử dụng nguồn lực trong xây dựng và vận hành công trình
cũng có thể có những đóng góp to lớn cho sự thịnh vượng của nền kinh tế và cải
thiện môi trường. Trước hết, kiến trúc xanh mang đến cái lợi trực tiếp chứ
không viển vông. Cụ thể, giá điện ngày càng cao và nếu tuân thủ thiết kế xanh,
chi phí điện năng sẽ giảm rất nhiều do ta giảm sử dụng máy lạnh, điện chiếu
sáng, điện nấu nước nóng… Chi phí y tế ngày càng cao, nên nếu thiết kế xanh,
căn nhà sẽ có bầu không khí sạch, giảm thiểu bụi bặm và các hoá chất (có rất
nhiều trong vật liệu xây dựng, đồ nội thất, các loại sơn, thảm…) giúp ta giữ
gìn sức khoẻ… Có thể nói, nhận thức và áp dụng “kiến trúc xanh” là một xu hướng
tất yếu và không có cách nào khác hơn là chúng ta phải áp dụng nó càng sớm càng
tốt.
Hiệp hội Kiến trúc sư quốc tế/ Viện kiến trúc Hoa Kỳ
(UIA/AIA) công nhận rằng, trong Bản tuyên ngôn phụ thuộc lẫn nhau năm 1993 của
nước này, thừa nhận các công trình và môi trường quanh nó đóng vai trò chủ đạo
trong tác động của con người tới môi trường tự nhiên và chất lượng cuộc sống.
Nếu các nguyên tắc thiết kế cân bằng được lồng ghép vào trong các dự án xây
dựng, thì ích lợi của nó mang lại cả về mặt môi trường và tài nguyên, các công
trình có lợi cho sức khoẻ, sử dụng đất phù hợp với sinh thái và xã hội, hiệu
suất vận chuyển và tính kinh tế cũng như tính cộng đồng ở địa phương ngày càng
cao.
PV: Vậy làm thế nào để có một mô hình kiến trúc xanh đúng
nghĩa, thưa ông?
Ông Nguyễn Trung Hoà: Kiến trúc xanh không có một nguyên tắc
chung, nhưng để có một kiến trúc xanh theo đúng nghĩa thì cần phải kết hợp các
yếu tố là thiết kế, vật liệu và thiết bị. Ba yếu tố này kết hợp với nhau thì
mới có một kết quả cuối cùng cho mô hình kiến trúc xanh như chúng ta mong muốn.
Bởi, nếu kiến trúc sư chỉ biết thiết kế công trình mà không biết nên sử dụng
vật liệu nào thân thiện với môi trường và lắp đặt các thiết bị như thế nào để
tiết kiệm năng lượng, thì không thể xây dựng được một công trình xanh.
Theo Tổ chức Nghiên cứu Xây dựng Anh (Building Research
Establishment – BRE) và một số nhà nghiên cứu tư nhân cùng đưa ra tiêu chí đánh
giá công trình xanh thì đối với hạng mục kiến trúc ở vào các giai đoạn khác
nhau, nội dung đánh giá tương ứng cũng khác nhau. Nội dung đánh giá gồm 3 mặt:
Tính năng kiến trúc, thiết kế xây dựng và vận hành quản lý. Trong đó, đối với
kiến trúc ở vào giai đoạn thiết kế, giai đoạn mới xây, giai đoạn mới xây xong
và đang tu sửa thì đánh giá 2 mặt tính năng kiến trúc và thiết kế xây dựng,
tính toán đẳng cấp BRE và chỉ số tính năng môi trường. Đối với kiến trúc hiện
có đang được sử dụng hoặc một bộ phận thuộc về hạng mục quản lý môi trường đang
được đánh giá, thì đánh giá 2 mặt tính năng kiến trúc, quản lý và vận hành,
tính toán đẳng cấp BRE và chỉ số tính năng môi trường.
PV: Xin ông cho biết việc triển khai nhân rộng mô hình kiến
trúc xanh ở Việt Nam
hiện nay như thế nào?
Ông Nguyễn Trung Hoà: Trên thế giới, khái niệm về kiến trúc
xanh không còn xa lạ nhưng đối với Việt Nam thì còn rất mới. Thực tế, ở
Việt Nam
chưa có một động thái nào trong việc khuyến khích các nhà đầu tư, cũng như chưa
có một chế tài cụ thể cho việc khuyến khích các công trình được xây dựng theo
mô hình kiến trúc xanh, cũng như các hướng dẫn chi tiết và đồng bộ. Bản thân
công trình vốn đã không được sự “hưởng ứng” từ phía các nhà đầu tư (vì suất đầu
tư ban đầu khá cao) lại không được khuyến khích và quảng bá một cách thiết thực
từ các nhà quản lý xây dựng, từ chính quyền đô thị. Vì thế trong thực tế, các
công trình xanh vẫn tồn tại lẻ tẻ dưới dạng một dự án đơn lẻ mà không có bất cứ
sự “tuyên dương”, giới thiệu hay quảng bá nào và được ít người biết đến để rút
kinh nghiệm và học tập.
Trong khuôn khổ Chương trình Mục tiêu quốc gia về sử dụng
năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Bộ Xây dựng là một trong các Bộ được giao chủ
trì thực hiện nội dung "Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong toà
nhà". Hiện nay, Bộ Xây dựng cũng đề ra nhiều tiêu chuẩn như nhà ở cao
tầng, nhà văn phòng - hướng dẫn thiết kế sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả… nhằm đẩy mạnh tuyên truyền và nâng cao nhận thức về kiến trúc xanh.
Ở các nước phát triển, việc xây dựng các công trình xanh đã
được ứng dụng rất sớm. Những yêu cầu về công trình xanh đã xây dựng thành luật
từ lâu. Và ở Việt Nam,
vì nó là một đề tài rất mới nên cũng cần thận trọng. Vấn đề bối cảnh địa phương
phải đặt lên hàng đầu, từ đó mới xem xét giải pháp nào là phù hợp. Trước khi
muốn ứng dụng rộng rãi mô hình kiến trúc xanh, chúng ta cần có những bước khảo
sát, chuẩn bị, nghiên cứu lý thuyết một cách hết sức thấu đáo, để có thể ứng
dụng một cách hiệu quả nhất và đặc biệt cần phải đưa ra được một mô hình hợp lý
để năng lượng được sử dụng hiệu quả, đảm bảo môi trường phát triển bền vững.
PV: Xin cảm ơn Ông!
Lê Hằng (thực hiện)
|