|
Đã
gần một năm nay, chị Nguyễn Thị Nhị, nhân viên nấu bếp của trại nuôi Trại Lầm,
Hồng Phong, Chương Mỹ, Hà Nội không còn phải dậy từ 1- 2h sáng để nhóm bếp
chuẩn bị cơm nước cho công nhân nữa. Thay vào đó, khi tiếng gà gáy rộn lên ở
phía sau trang trại báo hiệu đã đến 5h sáng, chị Nhị mới tỉnh giấc và bắt đầu
một ngày mới. Rửa rau, vo gạo, thái thịt, đong đủ lượng nước vào nồi...

Hết một
lượt bày ra sẵn sàng, chị Nhị mới bắt đầu “khai hoả”. Ngọn lửa bắt nguồn từ
chiếc bếp gas chạy bằng khí biogas xanh lét, rực sáng cả căn bếp được điều
chỉnh nhẹ nhàng, an toàn dưới bàn tay thành thục của chị. Chỉ sau hơn nửa
tiếng, mùi thức ăn đã ngào ngạt bay ra...
Một
mô hình đa lợi ích, đa mục tiêu
“Từ
ngày trang trại có biogas, tôi nhàn hơn hẳn. Không phải dậy sớm, đầu tắt mặt
tối mà vẫn không kịp nấu cơm cho công nhân ăn. Mà dùng bếp gas biogas tôi thấy
còn đỡ sợ hơn bếp gas bình thường vì khi bật lên nó không phát ra tiếng động,
không đánh tia lửa... Mùa đông, công nhân đi làm về thoải mái tắm rửa bằng nước
nóng từ bình nóng lạnh, rất vệ sinh và an toàn...” - chị Nhị hào hứng nói.
Những
suy nghĩ của chị Nhị đã nói lên một trong rất nhiều những lợi ích của việc áp
dụng công nghệ khí sinh học vào trang trại chăn nuôi mà nhiều nơi đã tiến hành,
trong đó phải kể đến những đóng góp quan trọng của Trung tâm Công nghệ khí sinh
học thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.
Năm 2007, Văn phòng
Tiết kiệm năng lượng Bộ Công Thương đã chọn Trung tâm làm đối tác thực hiện Dự
án Phát triển các loại công trình khí sinh học tiết kiệm năng lượng quy mô công
nghiệp (gọi tắt là dự án Khí sinh học công nghiệp), thuộc "Chương trình
mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả" do Bộ Công
Thương chủ trì.
Dự án được tiến hành từ năm 2007 và kết thúc vào cuối năm 2010.
Theo đó, Trung tâm sẽ xây dựng mô hình trình diễn biogas cho 2 hộ gia đình và 2
trang trại là Trại Lầm, xã Hồng Phong, huyện Chương Mỹ, Hà Nội và trang trại ở Đan Hoài, xã Đan Hoài, huyện Đan
Phượng, Hà Nội. Theo ông Nguyễn Quang Khải - Giám đốc Trung tâm Công nghệ khí
sinh học, chủ nhiệm Dự án và cũng là người theo sát Dự án từ đầu đến cuối - có
thể khẳng định rằng, Dự án đã đi được gần hết chặng đường và đã thu được những
kết quả đáng mong đợi.
Ông
Nguyễn Hữu Vân, quản lý trang trại Hòa Phong cho biết: “Từ khi áp dụng mô hình
biogas, trang trại chúng tôi có những đổi thay đáng kể. Mùi hôi thối đã giảm
rất nhiều. Tình trạng ô nhiễm đất và nước không còn. Trước đây, vì sự ô nhiễm
này mà dân cư trong vùng đã kiến nghị lên chính quyền không cho phép chúng tôi
hoạt động, vì vậy, trang trại có thời gian bị đình chỉ. Có hồ biogas chúng tôi
đã hoàn toàn yên tâm”.
Trại Hòa Phong có qui mô 600 lợn nái và 3.000 lợn thịt.
Trung tâm Công nghệ khí sinh học đã thiết kế và xây dựng xong hồ kỵ khí che phủ
7.000 m3 vào cuối tháng 6/2009 để xử lý toàn bộ khối lượng chất thải của trại
chăn nuôi. Công trình đã sinh khí mạnh và chuẩn bị sử dụng khí sinh học để chạy
máy phát điện, khối lượng chất thải từ hồ kỵ khí sẽ được tái sử dụng để nuôi
cá. Hiện nay, trang trại đang nuôi 500 lợn nái và 800 lợn thịt.
“Không
chỉ như vậy, với biogas, chúng tôi có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí cho
nguồn năng lượng. Nhờ dẫn khí từ hồ biogas, chúng tôi thừa điện để đun nấu,
thắp sáng, sinh hoạt, sưởi cho gia cầm... giảm 100% chi phí mua nhiên liệu. Ước
tính một tháng, chúng tôi tiết kiệm được khoản tiền bằng một xe ô tô 5 tấn
than” – anh Nguyễn Hữu Vân cho biết thêm.
Theo
chân những người thực hiện Dự án của Trung tâm Công nghệ khí sinh học, chúng
tôi tới trang trại thứ 2 là Trang trại Frora Việt Nam ở xã Đan Hoài, Đan
Phượng, Hà Nội mà nhóm thực hiện Dự án vẫn gọi tắt là Trại Đan Hoài. Được sự hỗ
trợ về công nghệ và chi phí của Dự án, năm 2007, trại chăn nuôi Đan Hoài đã xây
dựng thành công công trình xử lý chất thải chăn nuôi cỡ 250 m3 kiểu KT31 tích
hợp nhiều môđun.
Cho đến nay, công trình đã hoạt động ổn định và rất hiệu quả.
Khí sinh học được sử dụng chạy một máy phát điện 10 kW (loại máy nổ diezen được
cải tạo) suốt 24 giờ (mà vẫn chưa sử dụng hết lượng khí sinh ra hàng ngày) dùng
cho thắp sáng, chạy 4 máy bơm nước công suất 70W đến 1,5kW, 7 quạt thông gió
công suất 175W đến 2,7 kW cho toàn bộ hệ thống chuồng trại.
Anh Nguyễn Xuân
Phong, quản lý Trang trại cho biết: “Hiện nay, trang trại có 200 lợn nái, xấp
xỉ 150.000 lợn thịt. Từ khi được thụ hưởng công trình xử lý chất thải chăn
nuôi, tôi thấy tình hình sử dụng năng lượng của Trang trại đã thay đổi hẳn, bỏ
hẳn đun củi, đun gas và đun điện, chúng tôi chuyển sang đun 100% gas từ nguồn
biogas.
Ước tính 1 tháng, về nhiên liệu, trang trại đã tiết kiệm được khoảng từ
5-6 triệu đồng. Tôi thấy rất cần phải nhân rộng mô hình này lên nữa để đông đảo
bà con nông dân có điều kiện thụ hưởng những lợi ích của mô hình, cũng như giải
quyết tốt nhiều vấn đề khác như môi trường, năng lượng tái tạo...”
Mô
hình Biogas trang trại – cần thêm nhiều sự quan tâm
Chủ
nhiệm Dự án, ông Nguyễn Quang Khải chia sẻ: “Sau một thời gian dài thực hiện Dự
án, chúng tôi hoàn toàn có thể tự tin mà nhận định rằng, Dự án Phát triển các
loại công trình khí sinh học tiết kiệm năng lượng quy mô công nghiệp mà Trung
tâm Công nghệ khí sinh học phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện đã có kết quả
rất tốt, thực sự có giá trị, mang lại lợi ích thiết thực cho bà con nông dân,
cho xã hội. Đây là một mô hình rất cần nhân rộng đối với một nước nông nghiệp,
có tiềm năng về chăn nuôi, trang trại như nước ta”.
Điều này thực sự có ý nghĩa
khi mà cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, xã hội của đất nước, nguồn chất thải
tập trung ngày càng lớn gây ô nhiễm nghiêm trọng, đòi hỏi phải ứng dụng công
nghệ khí sinh học đê xử lý. Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ năng lượng ngày càng
tăng trong khi các nguồn năng lượng truyền thống ngày càng cạn kiệt và nhu cầu
bảo vệ khí quyển ngày càng bức xúc, đòi hỏi phải phát triển các nguồn năng
lượng thay thế, trong đó có khí sinh học.
Lợi
ích là thế, tính cấp thiết cũng cao đến thế, nhưng thực sự, nhận thức của xã
hội về khí sinh học nói chung, mô hình biogas trang trại và việc phát triển các
loại công trình khí sinh học tiết kiệm năng lượng nói riêng còn rất hạn chế.
Hiện nay, khi nói đến năng lượng, người ta thường chỉ nghĩ đến điện, than, dầu
khí. Một thí dụ điển hình là ngành Điện có dự án Năng lượng nông thôn nhưng
thực ra đây chỉ là dự án điện khí hóa nông thôn. Vì vậy, nhận thức của xã hội
là yếu tố then chốt.
Do chưa biết, chưa nhận thức được hay nhận thức thiếu đầy
đủ, nên hầu như không có doanh nghiệp nào kinh doanh lĩnh vực khí sinh học.
Người ứng dụng các công nghệ khí sinh học gặp rất nhiều khó khăn trong việc mua
sắm trang thiết bị, tìm kiếm dịch vụ hậu mãi. Ví dụ như Dự án Khí sinh học xây
dựng 42.000 công trình nhưng không có màng lưới cung cấp các dụng cụ sử dụng
khí như bếp, đèn. ..
Ông
Khải cũng cho biết, để phát triển công nghệ khí sinh học, cần phải làm tốt 4
“mảng” sau: Hoàn thiện về công nghệ, Đẩy mạnh tuyên truyền, Phát triển dịch vụ,
Chính sách của Nhà nước. Hiện nay, về công nghệ, chúng ta hoàn toàn có thể yên
tâm. Nhưng 3 mảng còn lại, chúng ta vẫn còn nhiều lúng túng, thậm chí, còn
thiếu hụt và trống rỗng.

Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
cần phải chọn lựa giờ giấc và kênh phát sóng làm sao thu hút được càng nhiều
người xem càng tốt, có thế mới có tác dụng. “Về tuyên truyền, chúng ta hiện nay
đang rơi vào tình trạng làm cho lấy lệ, cốt thông báo với mọi người rằng tôi có
làm, nhưng làm như thế nào và có tác dụng ra sao thì lại là một chuyện khác.
Tuyên truyền về khí sinh học không thể như thế được” – ông Khải tâm sự.
Về vấn
đề chính sách và thể chế cụ thể của Chính phủ, hiện nay, Việt Nam chưa có những
văn bản pháp luật quy định cụ thể để ưu tiên phát triển năng lượng mới và tái
tạo, bên cạnh đó, những chính sách ưu đãi về thuế dành cho các đơn vị dịch vụ
tư vấn về khí sinh học, chế độ khuyến khích người ứng dụng, sử dụng khí sinh
học... cũng chưa có. Tất cả những thiếu hụt này khiến cho người làm và người áp
dụng công nghệ khí sinh học rơi vào tình thế làm tốt không ai biết, khó khăn
không ai hay, không ai giúp đỡ.
Công
nghệ khí sinh học đang được mở rộng ứng dụng ra nhiều lĩnh vực. Nó không những
góp phần giải quyết ô nhiễm môi trường, giảm phát thải khí nhà kính mà còn là
một nguồn năng lượng tái tạo góp phần giải quyết nhu cầu năng lượng. Phụ phẩm
khí sinh học lại là một nguồn phân hữu cơ quý giá. Thật khó có công nghệ nào
mang lại lợi ích nhiều mặt như công nghệ khí sinh học. Vì vậy, cả xã hội cần
bắt tay và làm sao đưa công nghệ đa lợi ích, đa mục tiêu này vào cuộc sống sớm
ngày nào hay ngày ấy!
Minh
Thủy
|